Tôi từng sống ở Bangkok vài năm. Buổi chiều xong việc là tụi đồng nghiệp người Thái sẽ rủ đi bộ (hồi đó chạy bộ còn mới chưa trend như bây giờ) trong công viên. Đi bộ chán về thì ăn tối. Hôm nào rảnh tụi nó sẽ bảo uống một cốc bia rồi về nhà, còn không uống thì lại đi lang thang tí xíu đâu đó rồi về.

Đám người Tây trong mấy diễn đàn dân nước ngoài sống ở Thái hay giỡn là lười biếng như dân Thái, kiểu làm gì cũng thư thả, chẳng chăm chỉ tận tụy tới cùng. Sau nhiều năm thì diễn ngôn chê lười này chuyển thành “bẫy thu nhập trung bình”, nghĩa là quốc gia đã già trước khi thu nhập bình quân vượt qua mức trung bình, gọi là chưa giàu đã già, nguy to rồi.

Không biết ai thấy nguy to, chứ đám bạn tôi luôn luôn biết rõ rằng Bangkok là một thành phố có hố sâu ngăn cách giàu nghèo thuộc hàng khủng khiếp nhất thế giới, như Hoàng Gia Thái là giàu kinh dị còn người nghèo sống lê bết xết lết cũng đầy đường. Nhưng giàu nhất hay nghèo nhất không làm họ vội vàng chăm chỉ lên đặng thoát bẫy hay thoát kiếp. Họ sống cũng chầm chậm bình thường như vậy thôi.

Ở đầu xóm tôi ở có cả chục chú xe ôm xếp hàng chạy xe đưa khách vào các hẻm sâu. Chạy thì nhanh, cuốc xe liên tục, vất vả nắng nôi mưa gió vô cùng, nhưng tới trưa thì cả đám ngồi ăn trưa, cười giỡn, xong có ông còn chia đồ ăn thừa thành từng tô, mix thêm hạt vô đem xếp dọc vỉa hè cho chó hoang mèo hoang quanh đó ăn.

Có một loại không gian không định nghĩa thành tiền được là chỗ ngồi mát mẻ cho người già, trẻ con, chỗ đi bộ chơi đùa cho thanh niên, gia đình, người trẻ. Nó vừa có thể là không gian công cộng nhà nước cung cấp, hoặc có thể là bất cứ “khoảng hở” nào không bị tính thành tiền. Ở Bangkok, chính là đám food court trong thương xá, ngoài chợ trời. Bàn ghế làm bằng khung sắt, ghế nhựa, hàn dính vô nền, không bưng đi đâu được. Ai bán hàng cứ bán. Ai ngồi chơi cứ ngồi chơi.

Mùa hè tháng Hai, trời nóng khủng khiếp, giữa trưa bạn dắt tôi tới một siêu thị. Ở tầng food court là hơn chục ông bà lớn tuổi ngồi chơi. Có người đánh cờ, có bà cụ đan móc, thêu tranh chữ thập, có người chỉ ngồi thừ ra vì trong đó có máy lạnh. Với người già, khốn khổ nhất mùa hè ở Bangkok là nhiệt độ lên tới 36-37 độ C mà nhà không có máy lạnh, nhà nhỏ quá không có không gian hay mái nhà chỉ là mái tôn. Họ dễ đổ bệnh, đột quỵ (nhiều người qua đời vào mùa nắng).

Nhờ có những cái food court như vậy mà họ được trò chuyện, thư giãn hoặc tránh nóng. Bạn tôi kể cứ đến trưa nó đi đâu về là lại thấy các ông bà lớn tuổi sống quanh đó đi vô food court ngồi để đỡ nóng. Thật thương cho họ vất vả vì thời tiết. Thật mừng vì có cơ sở kinh doanh còn coi trọng lỏng lẻo, dành cho cộng đồng không gian để họ đến ngồi mà không bắt họ mua bán, ăn uống, hay đuổi họ đi.

Đó là món quà của sự rảnh rỗi.

Sự rảnh rỗi thường bị thế giới tư bản nhìn như phường tội phạm. Rảnh rỗi là không làm ra tiền. Rảnh rỗi là lười biếng, vô dụng. Rảnh rỗi là đáng xấu hổ. Hoặc phải giàu kinh dị lắm mới được quyền rảnh rỗi. Nó cũng xấu hổ như khi dân làm kinh tế hay người nước ngoài cứ mở miệng ra là chê Bangkok dính bẫy thu nhập trung bình. Hoặc nó cũng đáng xấu hổ như một bạn trẻ mới mất việc, vừa lo lắng khổ sở tìm việc, vừa phải giả vờ bận rộn để bạn bè không khinh vì mình rảnh rỗi, vô dụng.

Tại sao sự rảnh rỗi là một món quà?

Với những người già tránh nắng mùa hè trên, siêu thị đã cho họ một món quà: được “trú ẩn” khỏi thời tiết khắc nghiệt, được có không gian giao tiếp với người cùng lứa tuổi hoặc có thời gian thư thả như mình.

Ngoài Bangkok, mỗi năm tôi thường ở vài thị trấn rất bé ở Malaysia, không có tên trên bản đồ du lịch. Giống như Singapore, Malaysia có nhiều food court hoặc Kopitiam (một khu quán ăn lớn, bàn ghế ngồi chung, ai mua gì cứ mua, ai ngồi cứ ngồi). Tôi hay ngồi ở Kopitiam chơi, quan sát những gia đình sống xung quanh khu đó làm gì. Các món ăn trong khu thường giao động cỡ 5-12 ringgit (35 ngàn vnd - 80 ngàn vnd), đồ uống 2-3 ringgit/ly. Có gia đình lôi cả đám nhỏ xuống ngồi ăn, bố đút cho con ăn cho mẹ ngồi đọc báo, chơi game, 2 đứa nhỏ chạy vòng vòng. Có ông bà đem báo xuống đọc, xong thảo luận bàn cãi. Thanh niên trẻ ngồi ăn, coi điện thoại, ipad, chán chê có đứa… gục đầu xuống bàn ngủ luôn một lúc. Có mấy người mê cây cảnh còn nhân dịp ra đó mang theo chậu cây bé với hạt giống ra trao đổi. Nhân viên và chủ của các quán thường trò chuyện với khách, trêu lũ mèo hoặc cười đùa với nhau khi đã order xong, không bận thêm gì.

Sự thong thả đó diễn ra vào cả những ngày trong tuần chứ không phải cuối tuần, ở nhiều khu khác nhau, từ trung tâm tới ngoại thành, từ khu đông đúc nổi tiếng tới chỗ chỉ có dân sống quanh đó ra ăn. Không có ông bà chủ nào đi ra đuổi mấy người đó đi nhanh nhường chỗ cho khách ăn khác. Số bàn ghế luôn cực kỳ dư dả so với số khách, như thể đó là khu hoạt động chung của cả cộng đồng. Bạn tôi sống ở đô thị nhỏ trên đảo Borneo bảo nó ở đây ăn tô mì đó ở cái quán gần nhà cũng giá đó đã 6 năm rồi chưa lên giá. Hay là vì vậy nên thiên hạ không phải cày bục mặt ra để đi ăn mì? Hay vì vậy mà bà con ở đó thư thả vậy?

Tôi không học về kinh tế, không thể lý giải mối liên hệ giữa tô mì 6 năm chưa lên giá với sự rảnh rỗi của thiên hạ quanh nhà bạn. Nhưng ở giữa không gian đó, tôi ngồi hưởng thụ sự chậm rãi, lắng nghe tiếng trò chuyện của mọi người, nghe mấy ông bác hùng hồn giải thích về hạt giống, tiếng cười khúc khích trong câu đùa buổi sáng.

Nhiều năm nay, tôi thường suy nghĩ khi đọc phải những tranh luận về “lũ người” ra quán cafe mua ly nước 20k ngồi đồng cả ngày, chủ tiệm thì bảo cút hết về nhà mà ngồi, người “đồng cảm” với dân kinh doanh thì bảo 20k đó không đủ trả tiền điện cho nhà chúng mày. Nói chung quán cafe là nơi người ta làm ăn sống chết, đừng có ra đó mà lợi dụng. Còn dân đi uống cafe cũng là đi tìm nơi cắm laptop làm việc cật lực không ngẩng đầu lên từ sáng tới chiều. Họ cũng không rảnh rỗi. Cả hai bên người cung cấp không gian và người uống đều ở trong vòng quay chăm chỉ khổng lồ đầy xung đột.

Đối thoại hung hãn về sự xâm chiếm không gian này cũng đầy ở Mỹ, nơi cứ chỗ nào ngồi được thì chắc chắn sẽ có nhà chức trách bỏ lên đó cục bê tông hay thanh chắn cho không đứa nào ngồi được. Có nhà nghiên cứu về kiến trúc từng viết kiến trúc công cộng ở New York là kiến trúc bạo lực, không cho phép người thất thế được dừng chân, nghỉ ngơi, hay chợp mắt. Những kẻ vô gia cư (hay biết đâu là người quá mệt) không được phép ngồi xuống. Tôi thường ngạc nhiên về “sáng kiến” người Mỹ nghĩ ra để “tiêu diệt” sự rảnh rỗi. Quán cafe cắt bỏ hết ghế để không ai ngồi, chỉ đứng, mua, trả tiền và biến khỏi đây. Quán ăn liên tục có nhân viên ra hỏi “bạn ăn thêm gì không” để đuổi khéo sau khi bạn đã ăn hết bữa. Có quán ăn ghi rõ mỗi bàn chỉ được ngồi 1,5 giờ. Mỗi mét đất là một mét tiền.

Cách suy nghĩ về không gian công cộng ở nhiều nơi như TP.HCM cũng vậy, không tạo ra tiền thì biến đi chỗ khác. Đi vô công viên ngồi mà không gọi nước thì mấy người “quản trị” công viên sẽ ra vô hỏi mãi cho ngán mà đi. Sự rảnh rỗi không được ban phát làm món quà cho cộng đồng hay “vô tình” [cố ý] để ngỏ cho mọi người được có cơ hội dừng bước, nghỉ ngơi, trò chuyện.

Có lần tôi đi lạc ở Bangkok, xung quanh toàn đường bê tông nóng rực đến nhức đầu. Tới khúc mệt quá, tôi đứng nép vào một chân cầu nghỉ, thì phát hiện ở dưới chân cầu đó là một cái công viên bé tí, có mấy băng ghế, vài cái cây có bóng mát. Ở đó đã có vài người ngồi, có hai bác ngồi trò chuyện và ném vụn bánh mì cho chim ăn. Tự dưng thoát khỏi cơn nắng nôi đến say người bên ngoài đường lớn, tôi tìm được chỗ trú chân. Sự thư thả có chỗ để tồn tại giữa đô thị đặc sệt bê tông và ngột ngạt làm việc.

Ban đầu tôi nghĩ về sự rảnh rỗi là không gian và sự hào phóng của doanh nghiệp/nhà nước: là công viên, food court, kopitiam, thư viện, vườn cây.

Nhưng càng về sau, tôi nhận ra sự rảnh rỗi là một tâm thế, nơi người ta trân trọng thời gian ở cạnh nhau hơn là tính toán thành tiền từ quãng thời gian đó.

Ở Indonesia, thỉnh thoảng tôi và gia đình bạn hay ăn tối cùng. Hôm nào bảo ăn cùng là hôm đó anh sẽ rủ chồng tôi đi… đánh cá để có cá nướng. Vợ anh sẽ đi vô vườn cha mẹ hái mớ rau củ chị muốn xào, nấu. Tôi thường hỏi họ có cần mua gì thêm không thì họ đều từ chối. Anh thích vật lộn cả nửa buổi trên biển để tóm được vài con cá, đem về ngồi bắc lửa nướng thu lu, xong cả đám bu vào xem đó là cá gì, đứa nào xí con gì. Nếu để cho nhanh chóng gọn gàng, tôi chỉ cần chạy ra vựa cá ngay đầu xóm là mua được hai con to đủ cả nhà ăn.

Họ không thích thế. Bữa ăn của họ là một quá trình, mất thời gian và vui vẻ.

Chồng tôi là người Mỹ, anh quen với sự đúng giờ kiểu công nghiệp. Có lần, chúng tôi gọi thợ điện về sửa điện. Anh thợ điện hẹn 1 giờ trưa tới. Lê lết mãi tới 3 giờ ảnh mới tới. Xong ảnh ngồi uống trà cà kê xong mới bắt tay vô làm. Cuối cùng mọi thứ cũng xong, nhưng chồng tôi không quen.

Lần khác, anh chàng lại hẹn 1 giờ trưa tới. Bữa ảnh tới, chồng tôi bảo anh sẽ giả vờ đi vắng, đặng 1 giờ 30 mới về cho ổng chờ cho biết tay. Ai dè tới 1 giờ 30 chồng tôi về anh kia vẫn… chưa tới. Ảnh bảo ảnh đổi ý, 1 giờ trưa mà là 1 giờ trưa ngày mai nghen =))). Chúng tôi dần quen với sự lần lữa bình thường, mọi việc rồi cũng sẽ xong, điện đóm được sửa đúng như ý, chỉ là… không đúng giờ hẹn thôi. Dân làng ở đây quen từ từ như vậy bao lâu rồi.

Hay vì ở thôn quê, thời gian không thể quy đổi thành tiền nên không ai bận tâm vội vàng? - Có lần tôi nghĩ như vậy. Nhưng Bangkok là đô thị công nghiệp dịch vụ từ rất lâu rồi. Malaysia cũng là quốc gia phát triển. Dùng sự công nghiệp hay yếu tố đô thị để trả lời cho câu hỏi này xem ra không phù hợp.

Rảnh rỗi để sống cùng nhau

Tôi sống nhiều năm ở Mexico. Dân Mexico sống ở nơi nào có người Mỹ thường tính giờ lao động y như người Mỹ, làm bao nhiêu giờ họ muốn được trả bấy nhiêu tiền, rành rọt như vậy.

Con đường vào khu tôi ở thỉnh thoảng sẽ có mưa lớn và tạo thành những hố bùn, khi đó xe ai lọt xuống mà bị kẹt, đi bộ vào xóm hỏi thì thiên hạ sẽ kéo ra lôi chiếc xe ra giúp bằng được, không để bị mắc nạn lâu.

Có lần một chiếc camper đắt tiền, cồng kềnh bị lún rất sâu, cả xóm đó, đàn ông thay nhau đào tới nửa đêm mới có cơ hội kéo cái xe ra. Kéo xe ra xong rồi anh chủ hỏi nhiêu tiền thì mấy ổng bảo không lấy tiền, gặp nạn mà, nếu có dư chai bia thì cho mấy chai bia là được. Có vậy thôi. Hóa ra không phải thứ gì họ cũng tính thành giờ làm việc. Họ vẫn dành thời gian cho nhau, cho người cần được giúp, cho những việc xung quanh mà họ thấy mình có nghĩa vụ.

Người Mexico trong làng rất thích chiều chiều ra bờ biển, uống bia, bật nhạc nhảy với nhau, tới khi mặt trời lặn thì ai về nhà nấy. Ngoài bờ biển chẳng có gì, chỉ có bờ biển và vài cái ghế gỗ do gỗ trôi dạt vào, ai rảnh thì ra đóng thành ghế cho bà con ngồi với nhau.

Các đối thoại chê dân Indo làm việc chán lắm cứ làm mấy tiếng là đòi cầu nguyện, hay dân Thái lười lắm, làm gì cũng chậm chạp đã trở nên vô tri. Những người nước ngoài đó chắc đã quên vì sao họ bỏ Mỹ, bỏ Đức để tới Thái mua nhà nghỉ hưu. Họ đã quên họ ca ngợi người Thái nhẹ nhàng, thích cười, thích nói chuyện ra sao. Họ đã quên họ bảo ở Thái, ở Indo lúc nào họ cũng thấy như được là gia đình trong cộng đồng.

Thời gian “lười biếng” bị chê bai đó là sự rảnh rỗi để quan tâm tới người xung quanh, để cười, để nhìn và đoán xem ai cần giúp đỡ, để hỏi han và đùa giỡn với nhau. Sự “lười biếng” mà họ nhìn xách mé đó chính là nguyên tố tạo nên sự sống, mối liên hệ, ràng néo người ta với nhau, ngoài quan hệ thô lỗ duy nhất là tiền bạc.

Nhưng tôi cũng thất vọng vì những định kiến kiểu này giờ đã “lan toả” đến những người Việt, người Indo ở đô thị, người Thái làm sếp kiểu Tây. Một lần tôi ngồi ngoài bờ biển và nói chuyện với một ông chủ từ Bandung tới làng đi du lịch. Ổng chê dân Indonesia làm ăn chậm chạp lắm, không “công nghiệp lên” là không thể thành nước phát triển được. Nhưng chắc ổng không để ý ổng phải bảo ông tài xế lái xe sáu giờ đồng hồ để tới cái làng tôi ở “du lịch”, chỉ để được đi bộ trong làng, ngồi ngoài bờ biển hưởng gió biển, ăn chuối chiên. Không phải chính ổng cũng đang bỏ rất nhiều tiền và thời gian để mua sự rảnh rỗi mà ông chê bai ở những người Indo khác sao? - Tại sao ông kỳ vọng những người khác nên từ bỏ sự thảnh thơi mà họ sẵn có?

Sự rảnh rỗi là niềm xấu hổ

Vài năm trước, có lần tôi viết về sự rảnh rỗi có thể làm mình phát rồ. Đó là trải nghiệm khi sống 10 tháng ròng trong một căn phòng vì dịch bệnh Covid-19 và không có gì để làm. Trong thời gian đó tôi đọc một bài viết của Michel de Montaigne. Ông gọi sự rảnh rỗi trong tâm trí là “một con ngựa thoát khỏi cương của chủ” (1), đến nỗi nó tạo ra những “quái tượng” trong đầu, những suy nghĩ lạ kỳ quái đản, đến nỗi ông phải tìm đến việc viết để lấp đầy sự rảnh rỗi, hòng tìm cách làm sự rảnh rỗi “tự xấu hổ”. Mô tả này gần giống với câu “rảnh rỗi sinh nông nổi” của ta.

it is like a horse that has broke from his rider, who voluntarily runs into a much more violent career than any horseman would put him to, and creates me so many chimaeras and fantastic monsters, one upon another, without order or design, that, the better at leisure to contemplate their strangeness and absurdity, I have begun to commit them to writing, hoping in time to make it ashamed of itself. < CHAPTER VIII - OF IDLENESS - Essays of Michel de Montaigne — Complete >

Có lẽ cách nhìn của tôi đã thay đổi. Tôi không còn thấy sự rảnh rỗi căng thẳng như thứ quái thai nữa. Đó là không gian trống và linh hoạt để con người “mọc” thêm như cái cây được nuôi dưỡng trong sự phong phú và đầy đặn của chuyển động thời tiết, đất, gió, trong quan hệ với người xung quanh. Có sự thư thả, con người bớt khắc nghiệt, bớt tập trung vào chính mình và chú ý đến xung quanh hơn. Người ta để ý đến người khác, lắng nghe chậm lại, suy nghĩ tìm cách nâng đỡ, đối thoại nhiều hơn trước khi kết luận về điều gì đó. Sự rảnh rỗi cũng cho ta cơ hội lấp đầy sự trống rỗng trong chính mình bằng những hoạt động ta chưa từng khám phá, ví dụ như bạn từng nghe đến những cô bác nghỉ hưu bắt đầu học làm bánh hay tìm cách đi du lịch. Đó là vì sự rảnh rỗi cho phép họ được nhìn sâu vào phần bên trong, để họ tìm thấy thứ họ muốn cho bản thân.

Nhưng sự rảnh rỗi không nên chỉ dành cho cho mỗi người nghỉ hưu, người già, hay trẻ con. Sự rảnh rỗi nên được trân trọng ở những người trưởng thành bởi họ phải làm việc vất vả nhất, nhiều trách nhiệm và căng thẳng với đủ áp lực cuộc sống. Càng nhiều căng thẳng, sự rảnh rỗi càng nên là đối cực quý giá. Những khoảng rảnh rỗi bé xíu chồng dành cho vợ, khi cô không phải bế con, mà được ra ngoài xóm ăn chè nói xàm với bạn bè. Ba chục phút rảnh rỗi cuối ngày hai vợ chồng đi bộ nói chuyện ngoài xóm. Ngày rảnh rỗi cuối tuần ông bà “tặng” cho con bằng cách giữ cháu cho hai vợ chồng thoải mái thích làm gì thì làm.

Con người không nhất thiết phải bị đơn giản hoá thành những mã số lao động, đơn vị tính giờ làm ra tiền, số tiền làm ra, hay lợi nhuận tăng cường. Con người không nhất thiết phải bị hạ nhục hay chế nhạo khi họ muốn rảnh rỗi, có quyền rảnh rỗi hay coi trọng sự rảnh rỗi của bản thân. Ta cũng không cần phải thấy xấu hổ khi thú nhận hai tháng nay mình nghỉ làm vì muốn nghỉ ngơi chứ mệt quá.

Tôi cũng từng coi sự rảnh rỗi là vô dụng. Khi đọc qua những lý thuyết về dây chuyền sản xuất, tối ưu từng động tác của công nhân để sản xuất được nhiều nhất, cho họ đi WC chỉ 5 phút, hay ứng dụng vận tải dùng mẹo ép tài xế chạy 10 tiếng không nghỉ, tôi không còn thấy sự ưu việt của sự chăm chỉ đến cùng kiệt nữa. Nó là biện minh cho sự mua rẻ sự sống của một nhóm người áp lên một nhóm người khác.

Những công nhân nhà máy sau 10 năm mài sức trên chuyền sản xuất sẽ bị chủ xưởng sa thải ngay hàng ngàn người chỉ trong chớp mắt khi họ không cần nữa. Vậy sự chăm chỉ kiệt quệ có nghĩa gì không? Vậy những công nhân chăm chỉ hơn công nhân Indonesia có đời sống tốt hơn không? - Sự chăm chỉ trên cơ sở tiền bạc hóa bào mòn đời sống của người, tiêu hoá và đẩy họ ra thành những thân thể bệnh tật, không còn cuộc sống, không có tương lai, và vẫn khó khăn như cũ.

Vậy anh công nhân Indonesia đòi một ngày được cầu nguyện sáu lần thì sao? - Hoá ra anh vẫn còn được phút dừng tay suy niệm về đức tin và lựa chọn sống của anh (ngoài mong muốn của những kẻ sử dụng lao động chê anh lười).

Tôi yêu thích sự rảnh rỗi.

Nhiều bạn bảo tôi có quyền rảnh rỗi vì không có con nhỏ, không phải lo lắng gánh nặng tiền bạc. Có lẽ đây là một phần của “đặc quyền”, vì vậy tôi không thể nói thay cho ai có hoàn cảnh khác mình. Sự rảnh rỗi cho phép tôi được suy nghĩ và thấm thía cảm xúc về cuộc sống mình và người xung quanh dành cho nhau.

Tôi có người bạn, khi rảnh cô sẽ rủ tôi đến nhà, chẳng làm gì hết, cô nấu ăn xong hai đứa ăn một ít, rồi nằm lăn ra hàng hiên, nói chuyện linh tinh thiên hạ, ngủ dậy thì gọt trái cây ăn, ăn xong xuống sân chung cư đi bộ. Sự rảnh rỗi cho tôi được ở bên cô.

Một cậu bạn chơi với tôi từ cấp hai. Cậu đã có vợ và hai con nhỏ. Hàng ngày, cậu đi làm toàn thời gian và chăm sóc con vì vợ cậu làm việc bận hơn. Nhưng cậu sẽ hỏi khi nào tôi rảnh, rảnh rỗi thì hai đứa ra đường đi bộ, nói xàm chuyện chính trị, vũ khí, quần áo, chạy bộ, kể chuyện cậu nuôi con sao. Chúng tôi có khi chỉ rảnh đi bộ 45 phút vì sau đó cậu sẽ về đi đón vợ. Nhưng cậu và tôi rảnh thiệt, bao năm qua cũng những chuyện xàm xí đó nói hoài không hết, cũng không có thêm mục đích gì mới cho những giờ như vậy.

Hồi ở Bangkok, tôi có thằng bạn, hôm nào rảnh nó sẽ rủ tôi ra công viên lớn ngắm chim. Xong nó sẽ bình luận loại chim đó là gì, có hót không, tụi nó tìm bạn ra sao, vô cùng phức tạp. Thỉnh thoảng nó sẽ tìm ra tổ chim ở đâu đó để chỉ tôi xem. Sau khi chán chê với chim nó chuyển qua các loại cây, môi trường sống, khả năng đặc biệt của cây, quả nào ăn được, trong công viên có chỗ nào ra quả ăn được. Cứ như thể thằng đó đi làm về là dành hết thời gian còn lại ở ngoài cái công viên đó vậy.

Tôi thấy may mắn, vì quen những người yêu sự rảnh rỗi, hiểu ý nghĩa của sự rảnh rỗi trong ý nghĩa không tên và không lợi lộc của nó. Với họ, được rảnh là được quà, và họ quyết tận hưởng sự rảnh đó tới cùng, như một món bánh ngon cần ăn chậm, hay tách trà thơm phải uống từ tốn, nhỏ nhẻ.

Khi viết xong bài này, tôi nhìn lại bức tranh “Poet Fisherman” ở trên, và nhận ra người đàn ông đặt chiếc cần câu với dây câu quắn quéo trên cần, không thực sự để tâm đến “chức năng” của buổi câu cá là phải tập trung đi câu, mà không gian bức tranh là nơi ông chìm đắm vào những điều khác xung quanh. Con cò. Chén rượu. Dòng sông. Cỏ lau. Ông nghĩ gì hay muốn gì?

Nhưng ông nghĩ gì không còn quan trọng lắm.

===== CHÚ THÍCH TRONG BÀI:

(1) a horse that has broke from his rider - CHAPTER VIII - OF IDLENESS - Essays of Michel de Montaigne — Complete

Share

Leave a comment

Mời tác giả một tách cà phê

Bạn có thể đăng ký nhận bài viết mới qua email miễn phí hoặc qua kênh Telegram tôi sử dụng để thông báo có bài viết mới.

Một số sách của tôi đã xuất bản mà bạn có thể tìm mua:

  • Truyện ngắn “Con Rối Hát Ngoài Rừng Xa” - Shoppee đang khuyến mãi giảm 20%

  • Du ký “Mekong - Phù Sa Phiêu Bạt” - Shopee

  • Du Ký “Đi thật xa trên một chiếc camper” - Shopee


(*) Bản quyền bài viết thuộc về SachHay24H.com. Khi chia sẻ, cần phải dẫn link, trích dẫn nguồn đầy đủ về SachHay24h.Com. Mọi hành vi sao chép hoặc trích nguồn, chia sẻ bài viết không đầy đủ đều không được chấp nhận và phải gỡ bỏ.
Go HomePage: Sách Hay 24H hoặc click: Sách hay nhất mọi thời đại, Mua sách online, Bạn đắt giá bao nhiêu, Truyện cổ tích Việt Nam, Mùa xuân nho nhỏ, Tràng giang, Hịch tướng sĩ

Sách cùng danh mục

Outlook cũ mất trên máy Mac

Outlook cũ mất trên máy Mac

Hướng dẫn loại bỏ vết bẩn

Hướng dẫn loại bỏ vết bẩn

Giá trị pháp lý của bản cam kết

Giá trị pháp lý của bản cam kết

Giá trị pháp lý của bản cam kết

A Conversation with Quan Barry by Nathan Winer

A Conversation with Quan Barry by Nathan Winer

Tiếng Anh 11 Global Success Unit 9 Reading (trang 103, 104)

Tiếng Anh 11 Global Success Unit 9 Reading (trang 103, 104)

Slide Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt - Phân Tích Đối Thoại Hồn Và Xác, Ý Nghĩa Tư Tưởng

Slide Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt - Phân Tích Đối Thoại Hồn Và Xác, Ý Nghĩa Tư Tưởng

Slide Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt - Phân Tích Đối Thoại Hồn Và Xác, Ý Nghĩa Tư Tưởng

Sách đọc nhiều nhất
Công thức tọa độ trung điểm (siêu hay)

Công thức tọa độ trung điểm (siêu hay)

Công thức tọa độ trung điểm (siêu hay)

Giáo dục

Giáo dục

Giáo dục

Soạn bài Dương phụ hành Kết nối tri thức                               Ngữ văn lớp 11 trang 107 sách Kết nối tri thức tập 1

Soạn bài Dương phụ hành Kết nối tri thức Ngữ văn lớp 11 trang 107 sách Kết nối tri thức tập 1

Soạn bài Dương phụ hành Kết nối tri thức Ngữ văn lớp 11 trang 107 sách Kết...

Đóng vai người lính kể lại bài thơ Đồng chí của Chính Hữu điểm cao

Đóng vai người lính kể lại bài thơ Đồng chí của Chính Hữu điểm cao

Đóng vai người lính kể lại bài thơ Đồng chí của Chính Hữu điểm cao

Thơ Đường luật là gì (chi tiết nhất)

Thơ Đường luật là gì (chi tiết nhất)

Thơ Đường luật là gì (chi tiết nhất)

Xéo xắt hay Xéo sắc? Từ nào mới đúng để chỉ sự chua ngoa?

Xéo xắt hay Xéo sắc? Từ nào mới đúng để chỉ sự chua ngoa?

Xéo xắt hay Xéo sắc? Từ nào mới đúng để chỉ sự chua ngoa?

Review sách hay, sách hay nên đọc tại Sách Hay 24H.