Trước khi bắt đầu bài viết, tôi muốn dẫn ra trường hợp này nhằm kiểm tra trực giác của bạn đọc về lĩnh vực giáo dục:

Một thiếu niên 16 tuổi bỏ học ngay khi học xong lớp 9, không có định hướng tương lai nào, chỉ ở nhà vùi đầu vào máy tính. Máy tính và Internet với cậu đơn thuần là đồ chơi. Cậu làm mọi thứ khả dĩ với nó, và nó làm mọi thứ có thể với cậu, từ cái thấp hèn nhất cho đến cái cao đẹp nhất của thế giới mạng đều phơi nhiễm vào cậu từ độ tuổi dưới 18.

Vậy, thiếu niên ấy khả năng cao sẽ trở thành thế nào?

Đây là phép thử trực giác, nên bạn hãy trả lời nhanh bằng suy nghĩ đầu tiên loé lên. Không phải sợ bị phán xét nếu trả lời sai, vì bạn có thể giữ câu trả lời cho riêng mình. Phép thử này chỉ nhằm gợi lên ở bạn đọc chút ít suy nghĩ “Tự biết mình” khi tiếp cận vấn đề mới mà thôi.

Tuy nhiên, trước khi trở lại với vấn đề này, tôi sẽ nói về một chủ đề xem chừng không liên quan: những người săn lượm.

I. CÁI BẪY ĐÃ SẬP

Nhân học nói chung và cuộc sống của người săn lượm (săn bắt-hái lượm) nói riêng xưa nay vốn là chủ đề yêu thích của tôi.

Niềm yêu thích này bắt đầu khi tôi đọc bài báo mang tính giải ảo rất cao từ Jared Diamond - “The Worst Mistake in the History of the Human Race,” 1987, trên Discover Magazine - rằng cuộc sống của người săn lượm không hề khắc nghiệt, tàn bạo, và chóng vánh như mọi người bấy giờ thường biết. Ngược lại, các bằng chứng khảo cổ đã cho thấy người săn lượm cổ đại thực ra cao lớn hơn người làm nông trung đại, họ ít mắc bệnh hơn các nông dân, tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp hơn, tỉ lệ mắc các bệnh về răng và cột sống thấp hơn. Điều này gợi ý rằng người săn lượm có chế độ ăn đủ chất hơn nông dân, ít phải làm việc nặng nhọc hơn nông dân. Cạnh đó, các nghiên cứu nhân học trên người săn lượm hiện đại cho biết họ có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, ít thời gian làm việc hơn, và ngủ nhiều hơn những kẻ đã đi hết từ cách mạng nông nghiệp rồi tới cách mạng công nghiệp như chúng ta, mà đấy là họ còn đang bị chúng ta đẩy vào sinh sống trong những vùng đất tồi tệ nhất thế giới hiện nay.

Không những thế, bước chuyển sang nông nghiệp đã làm nặng thêm những vấn đề bất bình đẳng vốn nhức nhối trong lịch sử loài người: giới tính và giai cấp. Khi chuyển sang làm nông, thể chất yếu ớt hơn của phụ nữ trở thành điểm bất lợi, làm tiền đề cho tư tưởng trọng nam khinh nữ. Một trong số ít ưu điểm còn sót lại của họ là sinh sản, nhưng rốt cuộc lại dẫn tới viễn cảnh bi thảm là trở thành máy đẻ - điều vốn không xảy ra trong văn hoá săn lượm, bởi ở đó con người thậm chí phải hạn chế việc có thêm người bằng những cách cực đoan như giết trẻ sơ sinh, do nguồn thức ăn không đủ khả năng nuôi sống. Và cũng do bước chuyển nông nghiệp mà người làm nông có văn hoá tận thu và tích trữ - điều vốn không tồn tại ở người săn lượm bởi tận thu sẽ dẫn đến diệt vong cho tất cả, nếu tốc độ hồi phục của tự nhiên không bắt kịp tốc độ thu hoạch. Thứ văn hoá này là tiền đề của hệ thống phân chia giai cấp, nơi số ít những kẻ cai trị bóc lột chuyên sống bằng sức lao động của số nhiều những người bị trị. Cạnh đó, việc tích trữ cũng khuyến khích chiến tranh hơn, vì chiến thắng sẽ đi kèm tài sản cướp được; trong khi với xã hội săn lượm, chiến tranh vẫn có thể xảy ra bằng lí do nào đó, nhưng ít nhất lí do cướp bóc tài sản đã được loại trừ.

Nếu như Jared Diamond cho tôi niềm choáng ngợp tri thức bằng kiến thức về cuộc sống nói chung của người săn lượm, thì Peter Gray, trong quyển Free to Learn năm 2013, khiến tôi một lần nữa phải kinh ngạc vì kiến thức giáo dục nói riêng ở xã hội ấy. Lấy thông tin từ các nghiên cứu nhân học về người săn lượm hiện đại, những gì Gray nói thật ra không quá mới lạ so với những gì Diamond nói. Tuy nhiên, điểm đáng lưu tâm là cách Gray tập trung phân tích những đứa trẻ trong xã hội ấy và cách mà chúng học tập. Dựa trên việc so sánh hai nền văn hoá, ông tuyên bố rằng nền văn hoá săn lượm khuyến khích ở trẻ em các phẩm chất sáng tạo, tự do, hợp tác; trong khi đó nông nghiệp là bảo thủ, tuân lệnh, thống trị. Tại sao? Lập luận của Gray mới là phần thú vị.

Do phương pháp sinh nhai, người săn lượm phải di chuyển liên tục đến những miền đất mới lạ, điều này buộc họ phải thúc đẩy tư duy sáng tạo để tìm cách ứng phó với môi trường mới. Một bộ lạc săn lượm lí tưởng là nơi thành viên phải càng đa dạng càng tốt, để tất cả cùng được sở hữu bộ kĩ năng đa dạng nhằm ứng phó với các điều kiện đa dạng. Để dung chứa được tính đa dạng thì tất yếu cộng đồng ấy phải đề cao tự do. Và để kết hợp được mọi kĩ năng từ mọi thành viên bộ lạc, tính hợp tác nghiễm nhiên trở thành phẩm chất sống còn.

Trong khi đó, đặc điểm sinh nhai của người làm nông lại khuyến khích những phẩm chất khác hẳn. Do cuộc sống gắn chặt cả đời với một miền đất cùng khí hậu của nó, nông dân coi trọng kinh nghiệm hơn óc sáng tạo, từ đó tư duy bảo thủ được đề cao. Đặc biệt khi kinh nghiệm trở thành thứ đảm bảo mạng sống cho cả gia đình, nếu canh tác không đúng cách mùa màng sẽ thất bát và nạn đói sẽ kéo đến, lúc này việc hoài nghi và sáng tạo hoàn toàn có thể dẫn cái chết cho nhiều người, vậy thì cố nhiên các bậc cha mẹ nông dân sẽ vì sinh tồn mà rèn giũa tính tuân lệnh cho con. Ngoài ra, lợi thế lớn nhất của nông nghiệp là khả năng gia tăng dân số, dân số đông kết hợp với việc tích luỹ tài sản đã dẫn đến sự phân chia giai cấp, như đã nói trước đó, và thế thì tính thống trị tìm đến như hệ quả tất yếu của nền văn hoá này.

Bởi vì bản năng chúng ta đã được hình thành qua hàng ức năm tiến hoá (Homo sapiens bắt đầu xuất hiện cách đây 300.000 năm) trong khi nông nghiệp mới chỉ xuất hiện cách đây một vạn năm mà thôi, nên cuộc đào luyện phẩm chất cho những đứa trẻ nông dân đã diễn ra không hề suôn sẻ. Không khó đoán, và không khó thấy như các nghiên cứu nhân học đã chỉ ra, rằng trẻ em nông dân bị áp bức hơn và bị đánh đập nhiều hơn so với trẻ em săn lượm. Biết rằng ở cả hai xã hội, trẻ em đều có khả năng học tập và đóng góp cho cộng đồng khi lớn lên, vấn đề chỉ là trải nghiệm học tập của chúng thế nào mà thôi - được tự do hay bị áp bức, được nâng niu hay bị đánh đập? Gray đưa ra một ví von sắc sảo: cha mẹ săn lượm giống như đất nền chỉ cung cấp dưỡng chất, con cái có thể phát triển thành mọi sinh vật tuỳ thích; cha mẹ nông dân thì coi con cái như cà chua hoặc ngựa, chúng phát triển thành loài nào đều do cha mẹ định đoạt.

Như vậy, chúng ta đã có một bức tranh tương đối rõ nét. Cùng theo đuổi mục đích tồn tại, người săn lượm cao to hơn, ít bệnh hơn, thư nhàn hơn; người làm nông thấp bé hơn, nhiều bệnh hơn, vất vả hơn. Trẻ em săn lượm được tự do và được nâng niu hơn; trẻ em nông dân bị áp bức hơn và bị đánh nhiều hơn.

Phải chăng tôi đang cố vẽ ra cảnh tượng ngược đời? Nếu cuộc sống săn lượm hạnh phúc đến thế, sao người tiền sử lại từ bỏ hạnh phúc để chạy theo đau khổ? Nên chăng người hiện đại vứt hết mọi thứ xấu xa ngày nay để trở về cuộc sống săn lượm tốt đẹp xưa kia?

Những câu hỏi trên cho thấy cách tiếp cận sai lầm từ căn bản với vấn đề này. Từ đầu đến giờ tôi chủ ý không dùng những tính từ nhận xét chủ quan như “hạnh phúc hơn” và “tốt đẹp hơn,” mà thay vào đó là những tính từ miêu tả khách quan như “cao to hơn” và “ít bệnh hơn.” Cách tiếp cận đúng đắn với vấn đề này có lẽ nên nhìn theo thí nghiệm tư duy Song đề tù nhân (Prisoner’s Dilemma) của lí thuyết trò chơi, một tình thế mà nếu hai người chơi cùng hợp tác (giữ im lặng) thì sẽ cùng nhận lợi ích mức vừa, nếu cùng phản bội (thú tội) thì sẽ cùng nhận lợi ích mức thấp, nhưng nếu một người phản bội đơn phương (ta thú tội và họ im lặng) thì người đó sẽ nhận lợi ích mức cao. Dưới tư cách một tác nhân lí trí và thiếu tin tưởng đối phương, phản bội là chiến lược thống trị trong trò chơi này, như ảnh minh hoạ.

Cụ thể, xã hội săn lượm cũng có những vấn đề của nó, và một trong những vấn đề lớn nhất là họ không có đủ thức ăn để bắt kịp tốc độ sinh sản. Người săn lượm thường phải hạn chế sinh sản bằng cách để phụ nữ cho con bú thường xuyên và kéo dài nhằm tạo ra tình trạng vô kinh vì cho bú (lactational amenorrhea), và một cách cực đoan hơn là giết trẻ sơ sinh. Ngoài ra, vì y học của họ chưa phát triển nên tỉ lệ chết ở trẻ em tăng cao. Khi các nghiên cứu nói rằng người săn lượm ít bệnh, đó là nói về người lớn, bởi vì những ai đã sống sót được qua tuổi thơ thì họ thực sự sống khoẻ trong suốt cả cuộc đời.

Đứng trước những vấn đề này, loài người phải lựa chọn hoặc việc tiếp tục cuộc sống du mục ít người và ít bệnh nhưng kèm theo những lần phải chứng kiến con cái của mình bị giết để giữ ổn định dân số, hoặc việc theo đuổi lối sống chăn nuôi trồng trọt tuy vất vả hơn một chút nhưng cái lợi trước mắt là có đủ thức ăn nuôi đứa con sắp chết. Một mạng người là rất lớn, và một chút đau khổ chia đều cho cả gia đình thì xem chừng mỗi thành viên chỉ phải chịu nỗi khổ gần như bằng không, đặc biệt khi dân số vẫn luôn là ưu điểm của nông nghiệp. Nói cách khác, người làm nông đã đánh đổi chất lượng cuộc sống lấy số lượng dân cư.

Chỉ có điều, họ đã không ước lượng đủ chính xác những tác hại mà nông nghiệp gây ra, một chút nỗi khổ của hôm nay có thể tích luỹ và làm phát sinh rất nhiều nỗi khổ của ngày mai. Khi dân số bùng nổ đến mức sức sản xuất không bắt kịp, loài người chợt nhận ra con cái mình tuy không phải nhận lấy cái chết sớm sủa nhanh chóng nhưng lại phải lãnh chịu cuộc sống suy dinh dưỡng kéo dài. Họ cũng không thể quay đầu về với cuộc sống săn lượm trước kia, bởi những “người chơi” khác cũng đã chọn nông nghiệp mất rồi, dân số ở bên họ cũng đã tăng, đất đai ở đằng ấy cũng đã chật. Và một khi xung đột vì tranh giành đất đai nổ ra, người săn lượm luôn thua người làm nông, do một trăm người suy dinh dưỡng dù sao cũng vẫn thắng một người cao to khoẻ mạnh. Dân số vẫn luôn là ưu điểm của nông nghiệp.

Đây cũng chính là lí do tôi không sử dụng tính từ chủ quan như “hạnh phúc hơn” hoặc “buồn khổ hơn” cho vấn đề này. Giữa việc có ít người nhưng khoẻ mạnh với nhiều người nhưng ốm yếu, việc đánh giá hạnh phúc chỉ nên là đặc quyền của những người đưa ra lựa chọn. Chúng ta ngày nay là những kẻ đã mất từ rất rất lâu rồi cơ hội lựa chọn.

Nếu ngày nay có chăng chút tương đồng, thì đó chính là điện thoại thông minh và mạng xã hội. Điện thoại thông minh giúp chúng ta thấy thời gian trôi qua thật nhẹ nhàng và nhanh chóng, không còn cảm giác buồn chán loanh quanh bốn bức tường, hẳn là ai cũng chọn sở hữu một chiếc vì lợi ích nhãn tiền ấy. Nhưng tác hại chúng ta chưa lường được là nó thay thế việc tương tác xã hội trực tiếp của con người, và khi cộng đồng đạt ngưỡng ai ai cũng cắm mặt vào điện thoại thông minh khi nói chuyện, thì ta có muốn đảo ngược hành động của mình cũng vô ích. Ta bỏ điện thoại ra, ngẩng đầu lên, chỉ để tương tác bằng mắt với một mái đầu cúi gằm. Mạng xã hội, trên danh nghĩa, dùng để kết nối con người, chúng ta thấy rất tiện khi vẫn được nhìn người thân hằng ngày dẫu cách xa vạn dặm. Nhưng cái chúng ta chưa lường được là mạng xã hội khuếch đại những bản năng xấu xa của con người - giận dữ, dối trá, so bì, đố kị, hám danh - và càng ngày càng huỷ hoại sức khoẻ tâm thần của thanh thiếu niên. Nhưng một người không sử dụng mạng xã hội trong thời buổi nay thì thiệt nhiều hơn lợi, nên một lần nữa, việc loài người chọn mạng xã hội cũng không đảo ngược được.

Và đó là cách những cái bẫy đã sập vào chân loài Homo sapiens.

II. MỘT MÔI TRƯỜNG XẤU

Trở lại với câu chuyện đầu bài viết, có lẽ không khó đoán, thiếu niên ấy chính là tôi khoảng mười lăm năm trước. Vì sức khoẻ đi xuống, và một phần vì nạn bạo lực học đường, tôi thấy trường lớp không phù hợp với mình và chủ động xin bố mẹ cho nghỉ học ngay khi xong lớp 9. Thành thật mà nói, thời gian đầu tôi hơi mặc cảm do lối mòn suy nghĩ (đặc biệt trong xã hội mười lăm năm trước) rằng người không đến trường lớp là người thất học, và thất học thì đáng xấu hổ. Như bao nhiêu thanh thiếu niên thời đó, và có lẽ cả bây giờ, đầu óc tôi đầy những giáo điều khuôn sáo và lố bịch do truyền thông và trường lớp nhồi nhét. Tôi đã mất một thời gian dài loay hoay, không phải để tìm cách học mới, mà để tìm cách nhận ra những gì mình từng học được là vô bổ. Oscar Wilde từng viết, trong vở kịch Lady Windermere’s Fan, rằng việc quên đi những gì mình từng học quan trọng hơn nhiều việc tự giáo dục chính mình. Tôi nghĩ mình đã hiểu thấu đáo nghịch biện này.

Tôi vẫn hay được mọi người khen là nhân tài hiếm gặp. Từ anh tài xế taxi không quen đến những anh chị quen biết trong làng sách, ai cũng nói tôi rất đặc biệt. Tôi không biết mình có đặc biệt hay không, nhưng nếu có thì chắc chắn điều đó cũng không xuất hiện trong thời thơ ấu và niên thiếu của tôi. Sau khi bỏ học ở tuổi 16, bố mẹ tôi không định hướng gì (có lẽ họ không muốn tôi phải chịu thêm bất kì nỗi khổ nào), tôi vùi đầu cả ngày vào máy tính. Và như nhiều thiếu niên khác, tôi chủ yếu dùng nó để chơi game online và tiếp xúc với nội dung khiêu dâm. Với điều kiện như vậy, phải chăng tôi sẽ trở nên giống với đám trên Facebook mà tôi vẫn gọi là “chó lạc” - tập tính thường gặp: yêu nước độc hại, tư duy bầy đàn, tự ái thường trực, weeaboo, nghiện game, thù địch với tri thức, khiếp sợ đoạn văn dài, và bị ám ảnh tình dục?

Tôi hoàn toàn thẳng thắn thừa nhận rằng, thời gian đầu sử dụng Internet, tôi cũng tương đối chó lạc thật, hội tụ gần hết tập tính của loài này. Đó là những năm đầu mới bỏ học, thời điểm tôi vẫn để cho trường lớp cản trở việc học của mình. Nhưng dần dà, những năm về sau, các ảnh hưởng xấu ấy càng phai nhạt bao nhiêu, tôi càng cảm thấy tâm trí mình tự do bấy nhiêu. Và đó cũng là lúc tôi đăng trình trên con đường tự học.

Ảnh hưởng xấu ấy là gì? Rất cơ bản, nhưng cũng rất quan trọng: nỗi sợ học. Trong nền văn hoá của chúng ta, nỗi sợ học đã ăn sâu bám rễ đến mức mọi người không còn đặt câu hỏi nữa. Thậm chí nó còn bị coi nhẹ qua việc giải trí hoá, ngày khai trường năm nào trên mạng cũng đăng rất nhiều meme về các em học sinh nhăn nhó hoặc khóc lóc. Người đời coi học đối lập với chơi, và ở cùng phía với làm việc, tức là một dạng nhiệm vụ nào đó mình buộc phải làm, và chỉ làm dưới vai trò phương tiện, mục đích là cái khác. Giống như làm việc chỉ là phương tiện cho mục đích kiếm tiền, người ta ít khi vui lúc làm việc, họ thường chỉ vui lúc nhận tiền. Nhưng với ý nghĩa đó, học sinh hoá ra còn khổ sở hơn công nhân, vì công nhân tự nguyện đi làm với mục đích là tiền, nếu may mắn thì có công nhân thật sự vui với công việc mà họ được tự chọn; nhưng hiếm có em học sinh nào tự nguyện đến trường, ngay cả tự nguyện đến trường thì chương trình học cũng không được tự chọn, và do đó mục đích học là thứ các em bị người khác áp đặt lên - với kết quả chưa chắc đã được đảm bảo - thay vì là thứ tự thân các em nhắm tới.

Có thể nói nền móng cho toàn bộ cuộc đời hiện tại của tôi nằm ở việc đã chuyển hoá thành công nỗi sợ học thành niềm vui học. Đối với tôi, học và chơi là một. Trước kia tôi từng hào hứng với chơi bao nhiêu thì bây giờ hào hứng với học bấy nhiêu, và bởi vì chúng là một nên chúng không loại trừ nhau. Câu nói thời đi học tôi thường nghe “Học ra học, chơi ra chơi” hoá ra là vô nghĩa, vì nó dựa trên sự phân chia sai lầm. Nhưng làm thế nào để chuyển hoá được nỗi sợ học thành niềm vui học? Làm thế nào để chúng trở thành một? Tôi vẫn thường coi đây là bí ẩn lớn nhất của bản thân, và việc lí giải được nó sẽ là bước tiến rất lớn trong công cuộc “Tự biết mình.” Nó khó lí giải vì niềm vui học đến với tôi một cách tự nhiên, như thể một người sống trong môi trường lành mạnh nên có sức khoẻ tốt, nhưng họ chỉ có thể tự biết mình đang khoẻ mạnh chứ không thể biết loại thức ăn nào giúp mình khoẻ hơn và loại nào khiến mình yếu đi.

Để biết được điều đó người ta cần hai yếu tố: kiến thức dinh dưỡng về cơ thể mình, và quan sát biểu hiện ốm yếu của những người sống ở môi trường tồi tệ.

1. Yếu tố thứ nhất: hiểu về dinh dưỡng cho tâm trí

Peter Gray, trong Free to Learn, đã viết rằng mô hình trường học Sudbury Valley là bí mật bị giữ kín lâu nhất trong nền giáo dục Mĩ. Nó bị giữ kín không phải vì ác ý mà vì triết lí giáo dục của nó quá khác biệt nên ít công trình học thuật nào nhắc tới, và người dân cũng ít dám cho con theo học vì không chấp nhận được sự khác biệt quá lớn này. Nhưng nó đang dần dần được hé lộ nhờ những cựu học viên, và nhờ những người áp dụng triết lí của nó theo hình thức khác.

Tôi không theo học và cũng không tường tận về Sudbury Valley, nhưng có thể nói rằng tôi là người áp dụng gần như hoàn chỉnh, một cách vô tình, triết lí học tập tự do mà Peter Gray giới thiệu, trong đó Sudbury Valley chỉ là một trong nhiều mô hình áp dụng nó. Sở dĩ đầu bài viết tôi phải nói dông dài về người săn lượm, bởi vì triết lí học tập này trùng khớp với việc học tập trong xã hội của họ, và như vậy chúng ta cố nhiên có một cuộc thí nghiệm gián tiếp khổng lồ. Theo Gray, loài người vốn dĩ đã có bản năng học tập rất mạnh mẽ, trẻ em ở mọi xã hội có thể học thành thạo ngôn ngữ và văn hoá chỉ trong vài năm. Trẻ em săn lượm có khả năng học cách truy vết dấu chân của hàng trăm loài động vật và ghi nhớ đặc điểm của hàng trăm loài thực vật. Vậy thì hiếm có khả năng nào trẻ em trong thế giới hiện đại lại thiếu thứ bản năng mạnh mẽ ấy. Nỗi sợ học của chúng ta là một sản phẩm của trường lớp, và trường lớp lại là sản phẩm của lịch sử (xem bài Tự biết mình: Điều hiếm thấy trong nền giáo dục bắt buộc), chuỗi nhân quả này không có tri thức dự phần, trong khi tri thức nên là yếu tố hàng đầu của giáo dục mới phải.

Cách thức để kích hoạt bản năng ấy vô cùng đơn giản: hãy cứ để người ta học tập tự do. Giống như trẻ em săn lượm không bị cha mẹ định hướng phải học gì (vì bản thân cha mẹ săn lượm cũng không biết học gì là cần thiết với một cuộc sống di cư liên tục), Gray đề xuất rằng hãy để trẻ em tự do tiếp xúc với nền văn hoá và rồi các em sẽ tìm ra cái mình muốn học. Đặc biệt, một khi các em đã tìm ra, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng sức mạnh của bản năng học tập. Là một nhà khoa học, Gray không nói suông, ông đã cho thấy học sinh của Sudbury Valley (mô hình học tập tự do duy nhất ông nghiên cứu) đều sống ổn khi ra trường, và những ai chọn học lên đại học (ở những trường đại học bình thường) đều không gặp khó khăn gì với môi trường học mới. Các học sinh cho biết, điều quan trọng nhất họ học được ở Sudbury Valley là tính tự học cao, động lực học cao, và khả năng đào sâu vào một kĩ năng cụ thể.

Học sinh Sudbury Valley có được những tính ấy bằng một quy trình đơn giản không kém: các em chơi tự do trong phạm vi trường, nơi được trang bị rất nhiều nguyên liệu chơi như sách vở, máy tính, nhạc cụ, bàn cờ, v.v., và trong quá trình giao tiếp, các em sẽ nảy sinh nhu cầu. Chẳng hạn muốn chơi cờ giỏi thì học toán, muốn đọc truyện được thì học chữ, có lần một biểu tượng Đức Quốc xã xuất hiện gây khó chịu cho vài học sinh, và từ đó vài học sinh khác nảy lên nhu cầu học lịch sử. Một khi học sinh có nhu cầu học, lúc này các nhân viên trường mới xuất hiện để cho họ các khoá học hoặc sách vở để học. Tựu trung, có thể hiểu cách vận hành của Sudbury Valley là cung cấp mảnh đất màu mỡ tri thức cho học sinh, chỉ cần chờ đến khi học sinh muốn khai thác từ mảnh đất ấy là nhân viên trường sẽ trang bị đầy đủ đồ nghề.

Như thế có nghĩa là để việc học vận hành được, học sinh phải có ít nhiều động lực làm gì đó (như mày mò vật dụng trong trường hoặc nói chuyện vu vơ với người khác), cũng chính vì lí do này mà Gray báo cáo rằng mẫu học sinh duy nhất không phù hợp với trường là các em bị tự kỉ nặng, không có động lực làm bất kì điều gì. Các em bị rối loạn tăng động giảm chú ý hoặc bị chứng khó đọc đều có thể học bình thường. Những người cho rằng nếu để trẻ em tự chọn môn học, thì rốt cuộc các em sẽ không chọn gì cả. Tư tưởng này chẳng những không được khoa học hậu thuẫn, mà dường như chỉ là lối tư duy suy bụng ta ra bụng người của những con người đã bị triệt tiêu niềm vui học tập mà thôi. Giả sử nói rằng trẻ em sẽ không chọn thú chơi gì cả, hẳn họ sẽ phủ nhận; nhưng tại sao họ lại dám khẳng định trẻ em sẽ không chọn môn học gì hết? Câu trả lời có lẽ đến từ sự phân chia sai lầm giữa học và chơi. Nhưng triết lí học tập tự do tuyên bố rằng học với chơi là một, và học cũng là một bản năng như chơi, không những thế còn là thứ bản năng rất mạnh mẽ. Người ta thường chỉ có vấn đề là thiếu động lực học, và theo Peter Gray, động lực học lại là cái trường lớp thường triệt tiêu ở nhiều người, bằng cách biến việc học thành công việc.

Triết lí này vẫn đúng với tôi cho đến tận giờ, động lực học mọi môn của tôi đều xuất phát từ những thứ do tôi mày mò ra, thay vì do người khác định hướng và thúc ép. Bộ kĩ năng chính tôi đang có là nghiên cứu, viết lách, dịch thuật, và nhiều loại ngoại ngữ. Sau khi chơi game online đến mức nhàm chán (điều này nghe có vẻ lạ đối với những người thi thoảng chơi game, nhưng thật ra cái gì trên đời cũng có lúc trở nên nhàm chán thôi, vì dopamine hoạt động như vậy), tôi thấy mình cần những kích thích nặng đô hơn. Với những con người mang tâm trí thiếu tự do vì đã bị trường lớp triệt tiêu điều đó, đầu óc họ sẽ không đủ phong phú để tìm kiếm sang các lĩnh vực “outside the box,” thành ra cứ loanh quanh với những kích thích quen thuộc tầm thường. Bước tiến kích thích ngay sau game online của tôi, chắc nghe cũng rất lạ, là cờ vua. Với mức độ kích thích trí tuệ của cờ vua, mọi loại game online tôi biết so với nó đều như trẻ con so với người lớn. Đây cũng là quãng thời gian tôi tự đào luyện cờ vua mạnh mẽ nhất, và ảnh hưởng của nó vẫn theo tôi đến tận giờ (năm ngoái tôi dịch quyển Ván cờ bất tử, âu cũng là nhờ ảnh hưởng ấy vậy).

Tôi luôn tự hỏi điều gì đã khiến mình tìm kiếm “outside the box” trong thời gian vùi đầu vào game online, tại sao tôi không đơn giản là chán tựa game này thì tìm tựa game khác? Trên đời không thiếu game, và game nào cũng dùng đến cả tâm lí học hành vi để lạm dụng sự chú ý của thanh thiếu niên. Câu trả lời có lẽ là: Vì được tự do hoàn toàn, nên tôi không tiếc thời gian và công sức mày mò những thứ tưởng chừng vô tích sự và phí thời gian với mình. Chẳng hạn, với một người yêu nước độc hại, việc mày mò thử học bất kì điều cao đẹp nào của xã hội văn minh đều sẽ hoàn toàn là vô tích sự và phí thời gian. Nếu thời gian có hạn và muốn tận dụng nó, có lẽ người yêu nước độc hại ấy khi đã chán tự hào với nước mình thì nên tìm cách bôi nhọ nước khác, hoặc nguỵ tạo lịch sử để nâng tầm ngạo nghễ, hoặc kết bầy tụ bè để đi đấu tố bất cứ ai nói xấu nước mình - phải dùng thời gian như vậy mới là tối ưu dưới tư cách một người yêu nước độc hại. Nhưng may mắn thay, tôi chưa bao giờ gắn bản thân vào một tư cách hẹp hòi, và nếu có bao giờ cần tư cách, tôi luôn nhìn nhận mình đơn giản là một con người tự do. Chính vì vậy, thời gian đầu tự học, tôi học rất nhiều thứ - từ gấp giấy origami, đến thiết kế 2D bằng Photoshop và Illustrator, đến dựng model 3D bằng 3ds Max - chỉ để nhận ra về lâu về dài chúng không hợp với mình. Công việc dò đường trên chỉ mất khoảng năm năm thời gian cuộc đời của tôi mà thôi, vì khi có động lực học, người ta học rất nhanh và không ngừng nghỉ, giống hệt với chơi.

Đến thời điểm đó tôi bắt đầu mày mò sang lĩnh vực chữ nghĩa, thứ tôi vẫn theo đuổi tới ngày nay. Tôi khởi sự bằng việc đọc sách, việc đọc sách dễ dàng dẫn dắt tôi đến với các tác phẩm vĩ đại và những dịch giả tài hoa, một trong những ảnh hưởng đáng nhớ nhất là bản dịch Alexis Zorba: Con người hoan lạc của Dương Tường. Và bước tiếp theo, xem chừng rất tự nhiên, là tôi thử làm ra một bản dịch của riêng mình, với tác giả được chọn là Oscar Wilde. Tôi từng đăng miễn phí toàn tập 11 vở kịch của Wilde lên mạng, nó chính là sản phẩm của thời gian đầu tôi mày mò với dịch thuật. Tôi làm một cách miễn phí, tự nguyện, và rất vui, vì nó hoàn toàn là trò chơi với tôi. Và một khi trò chơi có thể trở thành sinh kế của người ta, giúp họ sống hạnh phúc trong cuộc đời, thì việc cố phân chia giữa trò chơi với công việc dường như trở nên không cần thiết.

Ba ngoại ngữ tôi đang có cũng hoàn toàn do tự học và xuất phát từ quá trình mày mò cá nhân. Mười lăm năm trước, Internet cực kì thiếu thốn tài liệu tiếng Việt, nên nhu cầu thành thạo tiếng Anh của tôi nảy sinh. Vài năm sau, nhu cầu học tiếng Pháp hình thành khi tôi thấy vở Salomé của Oscar Wilde (vì duy nhất một vở kịch tiếng Pháp trong toàn bộ văn nghiệp của Wilde mà tôi học thứ tiếng này, đây cũng là giai đoạn khả năng tự học của tôi bắt đầu trỗi dậy). Những năm gần đây, xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu chủ nghĩa dân tộc - mà nhu cầu nghiên cứu này lại xuất phát từ việc tôi quan sát phong trào dân tộc cực đoan trên Facebook - tôi học thêm tiếng Trung. Năm ngoái, khi đọc bộ sách Lonesome Dove ba quyển, tôi ấn tượng mạnh với dòng chữ tiếng Latin mà Gus viết, nên nhu cầu học tiếng Latin bắt đầu manh nha. Một lần nữa, tàn lửa rất nhỏ nhưng nhen lên đống lửa rất lớn. Cũng do thế mà tôi hay nói mình rất phiền lòng khi bị đám cặn bã, dù xa lạ hay quen biết, bao quanh, vì tôi ý thức rất rõ rằng để bản thân được nhen lên đống lửa cao đẹp, thì xung quanh mình phải có tàn lửa cao đẹp đã.

Trở lại với triết lí học tập tự do và Sudbury Valley. Học sinh ở đây không phải dạng người học môn gì cũng giỏi, ngược lại, họ thường chỉ hứng thú và đào sâu vào một vài môn nhất định. Nhưng điều này không phải là nhược điểm, chính việc bắt học sinh học quá nhiều môn và mỗi môn rất nông (dĩ nhiên phải thế vì thời lượng không đủ để học sâu) mới là vấn đề. “Tại sao phải học những thứ mà ra đời hoàn toàn không dùng đến?” là câu hỏi có lẽ học sinh nào có trí tuệ trên trung bình cũng từng hỏi một lần trong đời. Ở thời tôi đi học, câu trả lời là nhằm bồi đắp tư duy và nhân cách. Chẳng hạn, ra đời không ai cần phải thuộc bảy hằng đẳng thức thì mới đếm được tiền, nhưng bảy hằng đẳng thức cho người ta nền tảng tư duy sắc sảo để tránh bị lừa tiền. Ra đời không ai cần phải biết giặc Mĩ đã giết bao nhiêu dân ta thì mới biết yêu thương người khác, nhưng học về thù hận và giết chóc trong quá khứ - bằng một cách lê văn tám nào đó - sẽ bồi đắp lòng tử tế cho con người hiện tại. Dĩ nhiên, những câu trả lời ấy chỉ có tác dụng ngang với nuốt cơm nóng để chữa hóc xương bò. Ngay từ hồi mười mấy tuổi, tôi đã thắc mắc tại sao người ta không dạy thẳng môn logic học nếu muốn nâng cao tư duy, tại sao phải đi đường vòng khi có thể đi đường thẳng, tại sao phải làm cách gián tiếp khi có thể làm cách trực tiếp? Nhưng có lẽ mục đích của nền giáo dục này là để không hỏi, việc đặt câu hỏi đã cho thấy một sản phẩm lỗi cần chỉnh đốn rồi.

Từ nhỏ đến giờ, tôi là người học lệch và tôi tự hào về điều đó. Thời đi học, tôi học lệch theo quy luật không nằm ở các nhóm môn, mà ở đặc điểm của giáo viên. Có những giáo viên tôi thích, do đó thấy thoải mái, nên tôi học môn của họ rất giỏi, cũng là môn đó nhưng năm sau trường xếp giáo viên khác dạy, mà tôi không thích lắm, là tôi chỉ học làng nhàng để vừa đủ điểm. Nói ra nghe thật khó tin, nhưng tiếng Anh là môn tôi kém nhất thời đi học, kém đến nỗi khi bỏ học, tôi phải học lại hoàn toàn. Việc trường lớp bắt học sinh học rất nhiều môn mà mỗi môn rất nông, về bản chất chỉ là một phiên bản cầu kì hơn của mấy fanpage phân phát kiến thức phân mảnh trên Facebook. Thời buổi nay, mạng xã hội đã khiến sự phân mảnh và hời hợt cùng tác hại của chúng hiện diện khắp nơi rồi, trường lớp không cần phải làm tồi tệ thêm vấn đề này.

2. Yếu tố thứ hai: quan sát những tâm trí nô lệ

Tôi vẫn luôn biết ơn bố mẹ vì đã cung cấp cho mình một môi trường tự do học tập, nhưng niềm biết ơn ấy chỉ hiển lộ rõ nhất khi tôi quan sát những con người khác trong xã hội này. Bằng tất thảy kinh nghiệm làm top writer Spiderum từ 2016, và toàn bộ trải nghiệm làm KOL trên Facebook từ 2022, tôi thấy nhiều người trong xã hội này không đơn thuần là sợ học nữa, mà phải nói là bài trừ tri thức. Những người sợ học vẫn còn có hi vọng được xua tan nỗi sợ để thích học trở lại; nhưng những người bài tri thức thì không có nỗi sợ gì cả, họ chỉ có lòng căm thù dành cho tri thức, và việc duy nhất chúng ta làm được chỉ là bày tỏ lòng cảm thông cho số phận vô phúc của họ.

Tôi thường hỏi tại sao mọi thứ lại tồi tệ đến thế. Nhận định của Peter Gray về phẩm chất ưu tiên của văn hoá nông nghiệp (trình bày ở Phần I) dường như đã trả lời cho tôi. Bảo thủ, tuân lệnh, thống trị - ba phẩm chất này chính là lời nguyền giáng xuống những dân tộc thuần nông. Những phẩm chất ấy có thể hữu dụng với thời kì nông nghiệp, nhưng kể từ khi loài người trải qua cách mạng công nghiệp đến giờ, chúng đã lộ ra nhiều điều bất cập. Trong thời đại công nghệ thay đổi vũ bão hiện nay, trớ trêu thay, xã hội của chúng ta có vẻ giống với xã hội của người săn lượm hơn là người làm nông. Mọi thứ đang thay đổi quá nhanh, những kĩ năng hữu ích với thời của cha mẹ hoàn toàn có thể trở nên không phù hợp với con cái. Lúc này thái độ với việc học nói chung quan trọng hơn những kiến thức của một số kĩ năng cụ thể.

Vì ít tiếp xúc trực tiếp với người lạ, sự bài tri thức mà tôi quan sát được đều đến từ trên mạng, và tôi rất mong rằng mạng xã hội đã khuếch đại vấn nạn đáng buồn ấy lên chứ thực tế không tệ đến thế. Ở khắp nơi trên mạng, nỗi sợ đọc dài trở thành cái mặc định. Trên mạng người ta không thể đối thoại nghiêm túc với nhau được nữa, vì đơn giản là không ai dành chú ý đủ lâu và đủ sâu cho những thông điệp dài. Trên Facebook, những bài viết ngắn bằng ¼ bài viết này thôi cũng đã không được đọc tử tế. Thói quen ở trên đó là lướt xuống cuối bài để đọc bình luận đầu tiên, và điềm nhiên tranh luận (nói đúng hơn là cãi lộn) với tác giả mà không hề đọc bài viết, cũng không hề cảm thấy rằng làm vậy là sai trái. Viết trên đó, tôi có cảm giác thường trực về sự bất đối xứng giá trị. Thứ nhất là bất đối xứng ở kiến thức, khi tôi phải tranh luận với những người có lượng kiến thức chỉ bằng một góc của mình thời còn tuổi thiếu niên. Thứ hai là bất đối xứng công sức, khi tôi bỏ công viết ra hàng đống chữ nhưng đối phương không bỏ công đọc hết số đó. Và nếu chỉ như vậy thôi cũng không sao, nhưng những con người bất xứng ấy lại nghênh ngang chê bai - họ lang thang trên mạng và chê bai mọi thứ, để cảm thấy bản thân còn giá trị - bằng một lượng kiến thức và công sức thấp hơn người mà họ chê bai rất nhiều.

Cái ngu thường đi kèm với cái ác. Quá nhiều lần mạng xã hội Việt Nam xâu xé người khác chỉ vì những điều khác biệt. Một quyển sách giáo khoa dạy tiếng Việt khác đi cũng bị chửi bới, một học giả tạo ra kiểu kí âm tiếng Việt mới cũng bị rủa sả, và những chuyện tưởng chừng hiển nhiên là có người ghét bánh chưng cũng trở thành lí do để xâu xé. Ngay cả khi nghĩ rằng có lẽ mạt sát người khác chỉ là thú vui của những con người như vậy, tôi vẫn không khỏi nhìn thấy nỗi sợ hãi của họ trong dạng niềm vui ấy. Họ sợ hãi sự khác biệt vì sợ rằng nó kéo theo sự thay đổi, và nếu sự thay đổi ập đến thì họ sẽ trở thành người vô dụng trong xã hội. Với những người hiếu học, học là việc cả đời và do đó khả năng thích nghi cũng cao hơn. Nhưng những con người ấy đã bị triệt tiêu lòng hiếu học từ rất lâu rồi, đầu óc họ đóng lại trước mọi thứ mới mẻ, và việc xù lông lên trước cái khác biệt là cách duy nhất để họ duy trì giá trị bản thân trong xã hội này. Đáng tiếc, những câu trên không phải chỉ để miêu tả người già, vì theo quan sát của tôi, nhóm hung hãn nhất trên mạng là thanh thiếu niên và người mới trưởng thành. Những con người này đã bị huỷ hoại tuyệt đối thái độ quan trọng nhất: học là việc cả đời.

Nỗi sợ hãi là kẻ thù của học tập. Trong Free to Learn, Peter Gray dẫn ra một nghiên cứu cho thấy chuột tìm hiểu môi trường xung quanh kém hơn nhiều khi chúng đang lạ lẫm và sợ hãi. Khi sợ hãi, các loài vật có xu hướng khép mình và sử dụng kiến thức đã có để ứng phó với hoàn cảnh, những phẩm chất chúng ta thường ao ước như sáng tạo và học hỏi chỉ phát huy trong trạng thái cảm thấy an toàn. Trong nền văn hoá hiện tại của Việt Nam, dù vô tình hay cố ý, nỗi sợ hãi đang được sản sinh nhiều hơn cảm giác an toàn. Truyền thông thường xuyên đe doạ người dân về nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc cùng đủ thứ an ninh dân tộc khác. Không khó hiểu khi đối mặt với những khác biệt liên quan đến dân tộc, như chuyện ai đó ghét bánh chưng, phản ứng đầu tiên của nhiều người là dấy lên nỗi sợ hãi và sau đó tỏ ra hung hăng để tự vệ. Nỗi sợ hãi đeo bám dai dẳng khiến họ không còn chút tâm trí nào để nghĩ đến việc học, trong cuộc đời vốn đã rất ít học của họ.

Ngay đến những môi trường xem chừng trí thức hơn trên mạng, như các diễn đàn viết lách hoặc hội nhóm học bằng Duolingo, sự khiếm khuyết khả năng tự học vẫn hiển lộ. Trên các diễn đàn viết, nhiều người hỏi tôi rằng phải đọc gì để có kiến thức như tôi, trong khi câu trả lời lúc nào cũng lù lù ở phần tài liệu tham khảo cuối bài, và một khi họ đã có văn hoá đọc tài liệu tham khảo thì sẽ không bao giờ lo thiếu các tài liệu nói về cùng chủ đề cả. (Cần lưu ý rằng có kiến thức như tôi khác với có tư duy như tôi. Chỉ cần đọc và thuộc những gì tôi đã đọc và thuộc là sẽ có kiến thức như tôi; nhưng có tư duy như tôi là vấn đề khác hẳn, vì nó yêu cầu nền tảng văn hoá, tần suất thực hành, và ý chí hành động.) Trong các hội nhóm Duolingo, nhiều người hỏi những vấn đề ngữ pháp rất ngây ngô trong khi phần guidebook đầu mỗi unit đều đã giải thích rõ, phần mà có lẽ họ thậm chí không biết có tồn tại. Tự học về bản chất là mày mò, người học sẽ mày mò một cách tự do mọi thứ có thể và từ đó tự khám phá ra quy luật, điều này yêu cầu một tâm trí tự chủ cao và tránh lệ thuộc. Những người được dẫn chứng ở đoạn này, tuy không nghi ngờ về tình yêu học tập của họ, nhưng tôi vẫn buộc phải nói rằng họ đã bị thui chột khả năng tự học một cách trầm trọng. Điều này xuất phát một phần từ lối giáo dục trường lớp là lúc nào cũng có giáo viên cầm tay chỉ việc, tới nỗi khi không có ai hướng dẫn, đến một cái nút thôi họ cũng không biết cách tự bấm vào để khám phá.

III. CHÚ HỀ VÀ NÔ LỆ

Thế còn hiện tượng giải trí hoá mọi thứ, bao gồm cả tội ác, trên mạng xã hội Việt Nam thì sao? Đó có phải dấu hiệu trò chơi hoá các vấn đề gai góc để phục vụ mục đích học tập?

Câu trả lời rõ ràng và dứt khoát là không. Bởi vì chơi khác với giải trí. Giải trí là hành động tìm kiếm niềm vui, thường ít dùng đến trí óc; trong khi đó chơi từ lâu đã là một chủ đề rất phức tạp và quan trọng của xã hội học. Johan Huizinga, trong quyển Homo Ludens năm 1938, định nghĩa chơi là “dạng hoạt động tự do đứng tách biệt một cách hữu thức với cuộc sống ‘bình thường’ và được cho là ‘không nghiêm túc,’ nhưng đồng thời cũng cuốn hút người chơi mãnh liệt và triệt để.” Không thể đơn giản hoá việc chơi vào việc giải trí, bởi có rất nhiều trò chơi không hề vui nhưng vẫn có khả năng cuốn hút người ta tột độ. Một người chơi cờ vua đang thua sẽ không vui, thậm chí rất buồn bực, nhưng tài tình thay, cờ vua vẫn cuốn hút người đó một cách triệt để, họ không vì buồn bực mà cho rằng cờ vua chỉ là những mẩu gỗ vô nghĩa, trái lại, họ vẫn có ý thức tôn trọng luật chơi mặc dù luật chơi mới thực sự là căn nguyên dẫn tới nỗi buồn bực của họ.

Việc giải trí hoá mọi thứ chẳng những không phải dấu hiệu của tâm trí vui chơi tự do, mà còn là dấu hiệu tuyệt vọng của tâm trí nô lệ khi được thả xích trong giây lát mới đúng. Chơi tự do là cách con người đào sâu vào vấn đề nhằm đạt đến trạng thái dòng chảy (flow), thứ được các nhà xã hội học miêu tả là khi người ta chỉ tập trung vào hoạt động đang làm và ý thức về bản thân cùng mọi thứ bên ngoài giảm đi. Một người chơi ở trạng thái dòng chảy sẽ chỉ quan tâm đến bản chất trò chơi, không quan tâm đến bản thân mình cùng niềm vui và nỗi buồn nó sinh ra. Đây chính xác là cảm giác tôi vẫn thường có khi chơi cờ, dịch thuật, viết lách, những lúc ấy đầu óc tôi chỉ nghĩ đến các nước cờ, bản dịch, bài viết mà thôi; chỉ khi dứt khỏi dòng chảy để nghỉ ngơi, tôi mới nghĩ đến bản thân kèm theo cảm xúc mình có, mà thường là nỗi mệt óc. Thế nhưng lạ thay, tôi vẫn muốn được tiếp tục hoạt động đó, vì nó mang lại sự hài lòng và cảm giác hướng thượng.

Còn giải trí? Đơn thuần là một cuộc truy cầu tầm thường cho thứ mục đích tầm thường là niềm vui. Những người thích giải trí vô độ là những hạng người quá thiếu thốn các cảm xúc hài lòng, thoả mãn, thanh thản, và hướng thượng ở công việc họ đang có. Vậy nên khi được thả xích khỏi công việc, thứ vốn chiếm hầu hết thời gian trong ngày, họ chỉ nghĩ đến duy nhất giải trí, nhằm lấy lại tinh thần để ngày mai bắt đầu phiên làm việc nhàm chán mới. Tâm trí nô lệ đã tước đoạt của họ khả năng tìm vui trong học tập và làm việc, giờ đây họ chỉ biết đến mỗi niềm vui ở giải trí. Giải trí hoá luôn có đặc điểm là nông cạn và vô bổ, người ta cười với nó thì được, chứ gần như không học gì được từ nó cả. Lấy ví dụ lĩnh vực dịch thuật của tôi, tôi được ảnh hưởng từ những yếu tố cao đẹp và chỉn chu như bản dịch Alexis Zorba của Dương Tường, nơi mà nếu soi ra những chỗ khiến người ta cười khằng khặc, thì có lẽ không có. Còn dịch thuật trong thế giới giải trí hoá? Tôi từng thấy người ta cười khằng khặc trước bản dịch “Anh không phải yêu quái mà là yêu em” từ lyrics “I love you, baby! I’m not a monster.” Hài hước: có; nhưng học tập: tuyệt đối không, thậm chí cái bản dịch hài hước ấy còn sai ngữ pháp tiếng Việt (“là yêu em”?). Giải trí hoá mọi thứ là như vậy đấy. Nó là dấu hiệu đáng buồn của một xã hội bài tri thức và thiếu vắng niềm vui học tập.

Thời còn mở cửa cho người lạ vào bình luận trên Facebook, tôi vẫn hay bị người lạ hỏi đểu rằng với quan điểm bài trừ giải trí hoá như vậy thì cuộc đời tôi còn lại gì vui, hay cả đời chỉ có một màu nghiêm túc nhàm chán? Tôi luôn thấy vô vọng trong việc giải thích cho những người này hiểu được cảm giác của niềm vui học tập. Nếu tôi nói rằng, đôi khi tìm được một quyển sách hay, niềm háo hức trước khi mở sách ra đọc của tôi cũng lớn ngang với niềm háo hức khi mở game online lên chơi, thì chắc chắn họ sẽ không tin và cho là tôi nói quá. Nhưng đó thật sự là cảm giác của tôi. Hiện giờ, tuy không dành nhiều thời gian cho game như xưa nữa nhưng tôi vẫn chơi game hằng ngày, từ cờ vua đến Marvel Snap đến Forza Horizon, nhiều tựa game trên nhiều loại nền tảng. Nhưng cạnh đó, tôi lại cảm thấy một niềm vui hoàn toàn ngang hàng ở những công việc tưởng chừng khô khan như đọc sách, dịch thuật, và viết lách. Việc tôi sẵn sàng hi sinh thời gian chơi game để đọc sách vì niềm vui xảy ra quá thường xuyên. Nhưng những tâm trí thiếu tự do đã bị tước đoạt hoàn toàn khả năng hiểu được điều này. Bởi vì từ nhỏ họ đã bị trường lớp điều kiện hoá rằng việc học là cái gây khó chịu, và mọi ham muốn học tập riêng tư của họ đều bị coi thường để điều hướng vào những môn mà người lớn áp đặt, nên họ lớn lên với tâm trí của một nô lệ không ngừng tìm kiếm chủ nô.

Nhưng cũng nên tránh cái nhìn tuyệt đối hoá và lí tưởng hoá việc chơi. Nếu coi làm việc là đối lập với chơi, tức những hoạt động chúng ta làm vì lợi ích và quy tắc của người khác, thì mọi hoạt động tôi làm từ xưa đến nay đều đan xen với tỉ lệ 80% chơi và 20% làm. Ví dụ, khi viết bài này tôi có 80% chơi ở chỗ chủ đề, văn phong, động lực hoàn toàn tự do theo bản thân tôi; 20% làm ở chỗ tôi phải lưu ý các quy tắc ngôn ngữ để viết lách cho đúng văn phạm, phải sắp xếp các ý tưởng cho mạch lạc để được coi là bài viết dễ hiểu với người đọc. Dù sao loài người cũng là động vật xã hội, không nên nhắm tới những viễn cảnh tự do 100% theo ý mình.

Thực tế, triết lí học tập tự do không mâu thuẫn với các hoạt động mang tính quy chế do người khác đặt ra, mà nó kết hợp với chúng mới đúng. Học tập tự do trang bị cho người học niềm vui học lớn và động lực học cao, sau đó nếu muốn tiến xa trên con đường học thuật, họ bắt buộc phải theo học các khoá học được tiêu chuẩn hoá và làm những bài kiểm tra tương ứng. Mục đích cuối cùng của học tập tự do vẫn là đào tạo những con người như chúng ta vẫn biết, chỉ khác ở chỗ họ có niềm vui học tập trong khi rất nhiều người khác thì không.

IV. VÀI DÒNG MINH ĐỊNH

Về cơ bản, bài viết này là một biểu hiện “Tự biết mình” của tôi, nhằm lí giải những bí ẩn tôi tự thấy ở bản thân. Đây không phải tài liệu khoa học với mục đích thuyết phục người đọc. Tôi cũng không có nhu cầu cần chứng minh bất kì điều gì với ai. Tựu trung, tôi vẫn thích viết, nhưng tôi chán đôi co trên mạng rồi, mọi bắt bẻ không được đón tiếp ở đây.

Tôi cho rằng các biểu hiện chó lạc bắt nguồn từ tâm trí nô lệ và thiếu học tập tự do, chứ tôi không cho rằng chúng đều do giáo dục truyền thống gây ra. Cuộc đời đâu thiếu những yếu tố biến một con người thành chó lạc, giáo dục truyền thống chỉ gây ra một phần, không phải toàn bộ.

Tôi không tuyên bố học tập tự do là triết lí có thể dành cho tất cả mọi người, mặc dầu tác giả Peter Gray mà tôi trích dẫn có tham vọng đó, nhưng hãy để công việc khó khăn ấy cho tác giả lớn như Gray. Tôi chỉ tuyên bố rằng nó rất khớp với cuộc đời của tôi và triết lí của tôi. Ngoài ra, tôi không tuyên bố mình là người thành công hay giàu có. Mục đích cao cả nhất của học tập tự do là trang bị cho người học niềm vui học lớn và động lực học cao, và đây cũng là điểm thành công duy nhất tôi thấy ở bản thân mình.

Còn lại, tôi vẫn giữ quan điểm rằng không có cái gì “one size fits all” ở đời, bao gồm cả ở lĩnh vực giáo dục. Nếu bạn chưa tìm được phương pháp tự giáo dục bản thân tốt, hãy thừa nhận rằng mình chưa có đáp án, để tiếp tục tìm kiếm.

Tư duy chấp nhận những khoảng trống kiến thức trong đời, thay vì dễ dãi chấp nhận những kiến thức sai chỉ để trám vào chỗ trống, chính là một trong những điểm khác biệt giữa người tự do luôn đi tìm lời giải, với kẻ nô lệ luôn đi tìm chủ nô.

Tài liệu tham khảo:

Diamond, Jared. “The Worst Mistake in the History of the Human Race.” Discover Magazine, May 1987, pp. 64-66.

Gray, Peter. Free to Learn: Why Unleashing the Instinct to Play Will Make Our Children Happier, More Self-Reliant, and Better Students for Life. New York, Basic Books, 2013.

Huizinga, Johan. Homo Ludens: A Study of the Play-Element in Culture. 1938. Angelico Press, 1938.

Khuyến nghị đọc thêm:

(Bài 1) Tự biết mình: Điều hiếm thấy trong nền giáo dục bắt buộc

(Bài 2) Niềm vui học tập: Đặc quyền thiếu vắng ở những tâm trí nô lệ

(Bài 3) Bắt nạt học đường: Khi trường học giống với nhà tù

Chỗ đứng của sự học trong một xã hội bị giải trí hoá

Trò chơi: Phương tiện giả lập cuộc đời và công cụ dân tộc chủ nghĩa

NGUYỄN TUẤN LINH

19/04/2026

Văn bản bài viết này không có sự can thiệp của AI.


(*) Bản quyền bài viết thuộc về SachHay24H.com. Khi chia sẻ, cần phải dẫn link, trích dẫn nguồn đầy đủ về SachHay24h.Com. Mọi hành vi sao chép hoặc trích nguồn, chia sẻ bài viết không đầy đủ đều không được chấp nhận và phải gỡ bỏ.
Go HomePage: Sách Hay 24H hoặc click: Sách hay nhất mọi thời đại, Mua sách online, Bạn đắt giá bao nhiêu, Truyện cổ tích Việt Nam, Mùa xuân nho nhỏ, Tràng giang, Hịch tướng sĩ

Sách cùng danh mục
Quy hoạch 1/500 là gì? Khi nào sử dụng bản đồ quy hoạch tỷ lệ 1/500

Quy hoạch 1/500 là gì? Khi nào sử dụng bản đồ quy hoạch tỷ lệ 1/500

Quy hoạch 1/500 là gì? Khi nào sử dụng bản đồ quy hoạch tỷ lệ 1/500

Cardi B: A Meme, Musician and Celebrity Worthy of The Limelight | The Amherst Student

Cardi B: A Meme, Musician and Celebrity Worthy of The Limelight | The Amherst Student

Chế độ dinh dưỡng cho mẹ bầu để con thông minh, xinh đẹp

Chế độ dinh dưỡng cho mẹ bầu để con thông minh, xinh đẹp

Chế độ dinh dưỡng cho mẹ bầu để con thông minh, xinh đẹp

Quần Áo Chó Mèo

Quần Áo Chó Mèo

Muzan Stole My Wallet — Hi Buri! I was wondering why Muichirou is always...

Muzan Stole My Wallet — Hi Buri! I was wondering why Muichirou is always...

SỰ TÍCH NGÀI QUAN ÂM TỐNG TỬ

SỰ TÍCH NGÀI QUAN ÂM TỐNG TỬ

Sách đọc nhiều nhất
Trình Chiếu PowerPoint Không Full Màn Hình: Nguyên Nhân & Cách Khắc Phục

Trình Chiếu PowerPoint Không Full Màn Hình: Nguyên Nhân & Cách Khắc Phục

Trình Chiếu PowerPoint Không Full Màn Hình: Nguyên Nhân & Cách Khắc Phục

Cách chụp ảnh ba người đẹp và ấn tượng

Cách chụp ảnh ba người đẹp và ấn tượng

Cách chụp ảnh ba người đẹp và ấn tượng

Tổng Bí thư Tô Lâm: Với Việt Nam, phát triển nhanh và bền vững là một thực thể thống nhất

Tổng Bí thư Tô Lâm: Với Việt Nam, phát triển nhanh và bền vững là một thực thể thống nhất

Tổng Bí thư Tô Lâm: Với Việt Nam, phát triển nhanh và bền vững là một thực thể thống nhất

Tiệm ảnh Beauty - 2T Concept - Gói chụp cổ phục tại chùa Thắng Nghiêm

Tiệm ảnh Beauty - 2T Concept - Gói chụp cổ phục tại chùa Thắng Nghiêm

Tiệm ảnh Beauty - 2T Concept - Gói chụp cổ phục tại chùa Thắng Nghiêm

Cheems là gì?

Cheems là gì?

Cheems là gì?

Hướng Dẫn Cách Chụp Ảnh Ngầu Cho Nữ Kiếm Triệu Like

Hướng Dẫn Cách Chụp Ảnh Ngầu Cho Nữ Kiếm Triệu Like

Hướng Dẫn Cách Chụp Ảnh Ngầu Cho Nữ Kiếm Triệu Like

Review sách hay, sách hay nên đọc tại Sách Hay 24H.